Khái quát về kinh tế

Sản xuất nông nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá, có năng suất và chất lượng cao; bước đầu hình thành các vùng chuyên canh tập trung cây công nghiệp và các vùng nguyên liệu phục vụ cho các nhà máy; kinh tế khu vực nông thôn phát triển theo hướng đa dạng hoá ngành nghề, giảm dần sản xuất thuần nông

Khái quát về kinh tế

A. Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu sau
Đến năm 2020 kinh tế – xã hội Phú Yên dự kiến đạt mức trung bình khá của cả nước, khá của miền Trung.
Các chỉ tiêu cụ thể:
1- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt
+ Giai đoạn 2000-2005: đạt 10- 10,5%
+ Giai đoạn 2006- 2010: đạt 14,5%
+ Giai đoạn 2010- 2020: đạt 11%-GDP bình quân đầu người
+ Năm 2005 khoảng 350,4 USD (gấp 1,64 lần so năm 2000)
+ Năm 2010 khoảng 640,2 USD
+ Năm 2020 khoảng 1627 USD.
2. Cơ cấu kinh tế các ngành

Năm 2005

Năm 2010

Năm 2020
Công nghiệp&xây dựng

32,1%

35,7%

38,8%
Nông lâm thủy sản

34,3%

22,9%

11,9%
Thương mại dịch vụ

33,6%

41,4%

45,2%

3. Về ngân sách
+ Giai đoạn (2001-2005) tốc độ tăng thu 17%/năm và đến năm 2005 thu cân đối đủ chi thường xuyên.
+ Giai đoạn (2006- 2010) tốc độ tăng thu 14,7%/năm, đến năm 2010 thu cân đối đủ chi thường xuyên và có tích lũy từ 18- 20% cho đầu tư phát triển.
+ Giai đoạn (2011- 2020) tốc độ tăng thu 15%/năm, đến năm 2020 thu đảm bảo chi thường xuyên và đầu tư phát triển, Trung ương không còn trợ cấp.
B. Đánh giá tình hình kinh tế tỉnh qua các năm
I. Giai đoạn 2001- 2005
1. Nền kinh tế phát triển theo chiều hướng tích cực; chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh từng bước được cải thiện; nhiều thế và lực mới đang hình thành, tạo đà cho phát triển kinh tế – xã hội trong những năm tiếp theo
Tổng giá trị gia tăng (GDP) tăng bình quân hàng năm: 10,8% (mục tiêu 10-10,5%); đây là mức tăng cao hơn so với bình quân cả nước (7,4%). GDP bình quân đầu người năm 2005 ước đạt 5,76 triệu đồng/người (~384 USD) (mục tiêu 5,16 triệu đồng/người), bằng 65,7% so với cả nước (584 USD).
Nền kinh tế duy trì được khả năng tăng trưởng khá và ổn định. Đã phát huy được nhiều lợi thế của từng vùng, từng ngành; các nguồn lực phát triển được khai thác có hiệu quả, các mặt văn hoá, xã hội có nhiều mặt phát triển tích cực. Cơ sở vật chất kĩ thuật, hạ tầng kinh tế – xã hội được tăng cường; năng lực cạnh tranh của các sản phẩm từng bước nâng lên. Nhiều sản phẩm và dịch vụ chủ yếu có năng lực cạnh tranh khá. Việc sắp xếp và đổi mới các doanh nghiệp nhà nước sẽ góp phần nâng cao rõ rệt năng lực cạnh tranh và sản phẩm dịch vụ trong thời gian đến.
2. Tăng trưởng ở tất cả các khu vực kinh tế, đi đôi với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao chất lượng sản phẩm
2.1. Sản xuất công nghiệp có mức tăng trưởng cao và ổn định, nhiều nhà máy mới đã và đang hình thành; một số đã đi vào sản xuất có hiệu quả; cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp từng bước được đầu tư hoàn chỉnh
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2005 ước đạt 2.175 tỉ đồng (Giá so sánh 1994), tăng bình quân hàng năm 19,5% (mục tiêu 19 – 20%);
Đến nay, có 93 dự án đăng kí hoạt động, trong đó có 47 dự án đã và đang đầu tư với tổng vốn 623 tỉ đồng. Khu Công nghiệp Hoà Hiệp được đánh giá là 1 trong 2 khu công nghiệp thành công ở khu vực Nam Trung Bộ.
2.2. Sản xuất nông nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá, có năng suất và chất lượng cao; bước đầu hình thành các vùng chuyên canh tập trung cây công nghiệp và các vùng nguyên liệu phục vụ cho các nhà máy; kinh tế khu vực nông thôn phát triển theo hướng đa dạng hoá ngành nghề, giảm dần sản xuất thuần nông
Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng bình quân 5,5%/năm (mục tiêu 3,5-4%/năm).
Kinh tế khu vực nông thôn từng bước được nâng lên, cơ sở hạ tầng nông thôn được cải thiện đáng kể. Đã có 100% số xã có điện lưới quốc gia (đạt kế hoạch đề ra). Tỉ lệ số hộ sử dụng điện 91,2%, trong đó khu vực miền núi 88%; tỉ lệ dân cư nông thôn sử dụng nước sạch 50% (mục tiêu: 80%).
2.3. Các ngành thương mại và dịch vụ tăng trưởng khá; các mặt hàng của địa phương tham gia xuất khẩu tăng nhanh và ổn định
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ năm 2005 ước đạt 3.000 tỉ đồng, tăng bình quân hàng năm 11,9% (mục tiêu 11,2%).
Dự kiến tổng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2001 – 2005 đạt 184,3 triệu USD (mục tiêu 350 – 400 triệu USD), trong đó hàng địa phương tham gia xuất khẩu: 147,2 triệu USD (mục tiêu 100 triệu USD). Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người năm 2005 ước đạt 65,2 USD/người, bằng 18% so với cả nước (368 USD/người).
Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 145 triệu USD (mục tiêu 400 triệu USD), bằng 36,2% so với kế hoạch, chủ yếu là các mặt hàng như hạt điều thô, nguyên liệu hàng may, sợi tổng hợp, thuốc tân dược, xe ô tô các loại,…
Dịch vụ bưu chính – viễn thông phát triển mạnh; chất lượng dịch vụ được cải thiện và giá cả liên tục giảm. Tỷ lệ dân số sử dụng điện thoại đạt 6,2 máy/100 dân (mục tiêu: 2,9 máy/100 dân), cả nước 11,7 máy/100 dân, đã có 100% xã có điện thoại đến trung tâm xã (mục tiêu 100%).
Giá trị của ngành thương mại và dịch vụ tăng bình quân hàng năm 12,8% (mục tiêu 10 – 11%/năm).
2.4. Tình hình tài chính của tỉnh tiếp tục được củng cố và cải thiện, góp phần ổn định kinh tế – xã hội và từng bước khai thác tốt hơn các nguồn lực của địa phương
Thu ngân sách trong 5 năm 2001 – 2005 ước đạt 2.152 tỉ đồng, tăng 664 tỉ đồng, bằng 144,6% so với kế hoạch đề ra. Trong đó, năm 2005 dự kiến thu ngân sách địa phương (không kể thu tiền sử dụng đất) đạt 505 tỷ đồng, bằng 136% so với mục tiêu đã đề ra (mục tiêu 370 tỉ đồng), bằng 12,9% GDP; đáp ứng được 97% nhu cầu chi thường xuyên của tỉnh trong năm 2005
Tổng chi ngân sách địa phương 5 năm ước đạt 4.368 tỉ đồng, tăng bình quân 19,58%/năm, xấp xỉ tốc độ tăng thu ngân sách trên địa bàn.
2.5. Huy động vốn cho đầu tư phát triển có nhiều tiến bộ, cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư tạo điều kiện để phát triển kinh tế trong thời gian đến
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 8.993 tỉ đồng, bằng 48,5% GDP (mục tiêu 6.050 tỉ đồng, bằng 33% GDP), tăng bình quân hàng năm 19,1%, cao hơn mức bình quân chung cả nước (15,8%).
3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
3.1. Cơ cấu ngành kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỉ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỉ trọng của ngành nông, lâm, ngư nghiệp. Dự kiến năm 2005, tỉ trọng của ngành công nghiệp và xây dựng đạt 30,69% (mục tiêu 32,1%), nông, lâm, ngư nghiệp đạt 33,63% (mục tiêu 32,9%), dịch vụ và các ngành khác đạt 35,67% (mục tiêu 35%).
3.2. Các thành phần kinh tế
Công tác đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước triển khai còn chậm, đến cuối năm 2005 dự kiến còn 7 doanh nghiệp chưa cổ phần hoá. Hầu hết các doanh nghiệp được sắp xếp, cổ phần hoá đều hoạt động tương đối ổn định và có chiều hướng phát triển tốt.
Đến nay có trên 400 doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang hoạt động trên địa bàn tỉnh với tổng số vốn đăng ký trên 440 tỷ đồng, (bình quân 1,1 tỉ đồng/doanh nghiệp). Tuy khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tăng nhanh nhưng quy mô còn nhỏ lẻ nên hiệu quả mang lại chưa cao.
3.3. Chuyển dịch cơ cấu lao động
Số lượng lao động được giải quyết việc làm 2001 – 2005 ước đạt 114 nghìn lao động, bình quân hàng năm giải quyết trên 20 vạn người (mục tiêu: 1,5 vạn người), đạt 114,2% kế hoạch. Thực hiện chương trình hợp tác xuất khẩu lao động, đến nay đã xuất khẩu trên 550 lao động, đạt 27,5% kế hoạch. Số lao động được đào tạo ngày càng tăng; từ 20% năm 2000 lên 52% năm 2005, trong đó lao động đã qua đào tạo có chứng chỉ đạt 27%.
II. Giai đoạn 2006 – 2010

+ Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm khoảng 15,6%; Trong đó: Khu vực nông, lâm, ngư nghiệp tăng bình quân 5,3%; công nghiệp và xây dựng: 23,8 %/năm và khu vực dịch vụ: 15%/năm.

+ Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế đến năm 2010 tỉ trọng các ngành nông, lâm ngư, chiếm: 21,3%; công nghiệp – xây dựng: 43,6% và khu vực dịch vụ: 35.1%.

+ Giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 29%/năm. Năm 2010 đạt 200 triệu USD (trong đó hàng địa phương xuất khẩu 180 triệu USD). Giá trị xuất khẩu bình quân đầu người: 219 USD vào năm 2010

+ Tăng thu ngân sách nhằm đảm bảo các nhiệm vụ chi thường xuyên của tỉnh và từng bước có tích lũy để đầu tư phát triển. Phấn đấu tốc độ tăng thu bình quân 23%/ năm, đến năm 2010 thu ngân sách trên địa bàn: 1.800 tỉ đồng, tỉ lệ thu ngân sách đạt khoảng 18 %GDP. Tốc độ tăng chi ngân sách địa phương bình quân 17.6%/năm, năm 2010 tổng chi 2.737 tỉ đồng, trong đó chi thường xuyên chiếm 32.9%

+ Tăng nhanh đầu tư toàn xã hội, giải quyết tốt tích lũy và tiêu dùng, thu hút mạnh các nguồn vốn bên ngoài, thời kỳ 2006 – 2010 tổng vốn đầu tư xã hội dự kiến 23,77 nghìn tỉ đồng (bằng 1,26% so cả nước)

+ GDP bình quân đầu người vào năm 2010: 741,5 USD